Truy cập nội dung luôn

Nhận thức số

Thể chế số

Hạ tầng số

Nhân lực số

An toàn thông tin mạng

Hoạt động chuyển đổi số

Xuất bản thông tin Xuất bản thông tin

Lan tỏa chuyển đổi số đến người dân vùng dân tộc thiểu số

Trong tiến trình chuyển đổi số (CĐS) quốc gia, việc đưa công nghệ đến với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là thước đo hiệu quả của chính sách. Thực tế tại Quảng Ngãi cho thấy, để CĐS đi vào cuộc sống, đội ngũ bí thư chi bộ, trưởng thôn chính là những “hạt nhân” quan trọng, đóng vai trò dẫn dắt, lan tỏa và kết nối giữa chính quyền với người dân.

Lan tỏa chuyển đổi số đến người dân vùng dân tộc thiểu số

“Hạt nhân” ở cơ sở dẫn dắt chuyển đổi số

Ở nhiều địa phương miền núi, nơi điều kiện hạ tầng còn hạn chế, người dân chưa quen với công nghệ, thì bí thư chi bộ, trưởng thôn chính là những người “cầm tay chỉ việc”, hướng dẫn từng thao tác sử dụng điện thoại thông minh, truy cập dịch vụ công trực tuyến hay thanh toán không dùng tiền mặt.

Không chỉ dừng lại ở tuyên truyền, lực lượng này còn trực tiếp tham gia triển khai các mô hình CĐS tại cộng đồng như tổ công nghệ số cộng đồng, hỗ trợ người dân cài đặt ứng dụng, tạo tài khoản định danh điện tử, tiếp cận thông tin chính sách. Qua đó, góp phần thu hẹp khoảng cách số giữa miền núi và đồng bằng.

Từng bước thay đổi nhận thức, thói quen của người dân

Việc lan tỏa CĐS ở vùng DTTS không đơn thuần là trang bị thiết bị hay hạ tầng, mà quan trọng hơn là thay đổi nhận thức và thói quen. Nhờ sự gần gũi, uy tín trong cộng đồng, đội ngũ cán bộ cơ sở đã giúp người dân hiểu rõ lợi ích thiết thực của công nghệ số trong đời sống hằng ngày.

Từ chỗ e ngại, nhiều hộ dân đã chủ động sử dụng điện thoại thông minh để tra cứu thông tin, học hỏi kỹ thuật sản xuất, tiêu thụ nông sản qua các nền tảng số. Thực tế cho thấy, khi người dân “hiểu” và “tin”, quá trình chuyển đổi sẽ diễn ra nhanh và bền vững hơn.

Gắn chuyển đổi số với phát triển kinh tế - xã hội

CĐS tại vùng DTTS không chỉ phục vụ cải cách hành chính mà còn mở ra cơ hội phát triển kinh tế. Nhiều mô hình ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp đã mang lại hiệu quả rõ rệt, giúp người dân nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Việc ứng dụng các hệ thống tưới tự động, cảm biến môi trường hay quản lý sản xuất qua điện thoại thông minh đã giúp giảm chi phí lao động, tăng sản lượng và từng bước hình thành sản xuất nông nghiệp thông minh. Đây chính là minh chứng rõ nét cho việc CĐS đang đi sâu vào đời sống người dân, kể cả ở những vùng còn nhiều khó khăn.

Tạo nền tảng cho “bình dân học vụ số”

Từ thực tiễn triển khai, có thể thấy, đội ngũ bí thư chi bộ, trưởng thôn chính là lực lượng nòng cốt trong việc hiện thực hóa mục tiêu “bình dân học vụ số”, phổ cập kỹ năng số cho toàn dân. Khi mỗi thôn, bản có một “hạt nhân số”, quá trình lan tỏa tri thức công nghệ sẽ trở nên tự nhiên, hiệu quả và bền vững hơn.

Trong thời gian tới, cùng với việc tiếp tục hoàn thiện hạ tầng số, các địa phương cần tăng cường tập huấn, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cơ sở, đồng thời nhân rộng các mô hình hiệu quả. Qua đó, đưa chuyển đổi số thực sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số./.

Theo mst.gov.vn


Mục tiêu & Định hướng

>50%

Hồ sơ giải quyết theo dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trên tổng số hồ sơ; 80% thủ tục hành chính đáp ứng yêu cầu được triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; tối thiểu 90% người dân và doanh nghiệp hài lòng về việc giải quyết thủ tục hành chính..

40%

Người dân và doanh nghiệp tham gia hệ thống Chính quyền điện tử thành phố được xác thực định danh điện tử thông suốt và hợp nhất từ hệ thống Trung ương.

100%

Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 phổ biến, liên quan tới nhiều người dân, doanh nghiệp được tích hợp lên cổng Dịch vụ công quốc gia.

90%

90% hồ sơ công việc tại cấp thành phố, 80% hồ sơ công việc tại cấp quận, huyện và 60% hồ sơ công việc tại cấp phường, xã được xử lý trên môi trường mạng (không bao gồm công việc có nội dung mật).

80%

80% báo cáo định kỳ (không bao gồm nội dung mật) của các cơ quan hành chính nhà nước được cập nhật, chia sẻ trên Hệ thống thông tin báo cáo thành phố và kết nối hệ thống báo cáo quốc gia.

25% GRDP

Kinh tế số chiếm 25% GRDP, năng suất lao động hàng năm tăng tối thiểu 7%

4G/5G

Phổ cập dịch vụ mạng di động 4G/5G và điện thoại di động thông minh

100%

Dịch vụ công trực tuyến được cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động

100%

hồ sơ công việc tại Bộ Y tế, Sở Y tế; 90% hồ sơ công việc của phòng y tế huyện được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước)

95%

Người dân có hồ sơ sức khỏe điện tử

50%

Số bệnh viện trên toàn quốc chuyển đối số thành công, triển khai hồ sơ bệnh án điện tử không sử dụng bệnh án giấy, thanh toán viện phí điện tử không dùng tiền mặt.