Truy cập nội dung luôn

Nhận thức số

Thể chế số

Hạ tầng số

Nhân lực số

An toàn thông tin mạng

Hoạt động chuyển đổi số

Xuất bản thông tin Xuất bản thông tin

Hiện thực hóa các Nghị quyết và Kế hoạch bằng hành động cụ thể, đồng bộ và sáng tạo

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực trọng yếu thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững. Trong lĩnh vực y tế, nơi tri thức, công nghệ và con người hội tụ vì sức khỏe nhân dân, tinh thần đó càng thể hiện rõ nét qua việc toàn hệ thống chính trị đang quyết liệt triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW của Ban Chỉ đạo Trung ương, Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ.

Đây là bước cụ thể hóa mạnh mẽ chủ trương của Đảng, nhằm đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành nền tảng và động lực phát triển của ngành Y tế Việt Nam trong thời đại số.

Từ định hướng chiến lược đến hành động cụ thể

Ngay sau khi Nghị quyết 57-NQ/TW được ban hành, để cụ thể hóa các nội dung Chính phủ đã ban hành Kế hoạch 02-KH/BCĐTW nhằm thống nhất điều phối, kiểm tra và giám sát việc thực hiện trên phạm vi toàn quốc Tiếp theo để rõ hơn các mục tiêu của từng ngành, từng lĩnh vực, trong đó có Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dânNgành Y tế là một trong những lĩnh vực tiên phong triển khai, với quyết tâm chuyển đổi mạnh mẽ mô hình quản lý, đầu tư, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ, hướng tới hệ sinh thái y tế thông minh, hiện đại và nhân văn. Bộ Y tế đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 57, trong đó nhấn mạnh 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm: cải cách thể chế, cơ chế quản lý và tài chính khoa học – công nghệ; phát triển hạ tầng dữ liệu y tế đồng bộ, kết nối toàn quốc; đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ mới; khuyến khích hợp tác công tư, liên kết quốc tế; và phát triển nhân lực y tế chất lượng cao.

Đặc biệt, Bộ y tế đã giao Trung tâm Thông tin Y tế Quốc gia đóng vai trò nòng cốt trong kết nối, tích hợp và khai thác dữ liệu phục vụ quản lý, nghiên cứu và hoạch định chính sách – một nền tảng quan trọng cho công cuộc chuyển đổi số ngành y.

Khoa học và đổi mới sáng tạo – động lực phát triển y tế Việt Nam

Thực hiện các nghị quyết và kế hoạch, Bộ Y tế xác định đổi mới sáng tạo không chỉ là nhiệm vụ, mà là văn hóa hành động của toàn ngành. Từ nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, y học chính xác, công nghệ sinh học đến các mô hình y tế thông minh, bệnh viện số, hồ sơ sức khỏe điện tử – mọi hoạt động đều hướng đến mục tiêu chung là nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ và dự phòng sức khỏe nhân dân.

Bên cạnh đó, các chương trình hợp tác quốc tế với Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Ngân hàng Thế giới (WB), Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) hay Liên minh châu Âu (EU) đang tạo cơ hội để Việt Nam tiếp cận công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực nghiên cứu, quản lý và vận hành hệ thống y tế số.

Tinh thần đổi mới – kết nối – chia sẻ đang lan tỏa mạnh mẽ ở tất cả các cấp, các đơn vị trong ngành, tạo nên bức tranh chuyển động đồng bộ, năng động và chuyên nghiệp hơn bao giờ hết.

Vì một nền y tế hiện đại, lấy người dân làm trung tâm

Nghị quyết 57-NQ/TW đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực chủ yếu của phát triển kinh tế – xã hội. Với ngành Y tế, điều đó đồng nghĩa với việc đưa công nghệ và tri thức trở thành nền tảng phục vụ con người, lấy người dân làm trung tâm của mọi chính sách.

Triển khai Kế hoạch 02-KH/BCĐTW  và Nghị quyết 71/NQ-CP và Quyết định 2183/QĐ-BYT ngày 01 tháng 7 năm 2025 về ban hành kế hoạch hành động của Bộ y tế thực hiện kế hoạch 02 là một minh chứng cho tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm cao, không chỉ trong hoạch định chính sách, mà trong từng hoạt động chuyên môn, quản lý, nghiên cứu và đào tạo.

Con đường phía trước còn nhiều thách thức, nhưng với quyết tâm chính trị mạnh mẽ, sự đồng lòng của toàn ngành và sự ủng hộ của xã hội, y tế Việt Nam hoàn toàn có thể bước vững vào kỷ nguyên số, nơi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cùng hội tụ vì một Việt Nam khỏe mạnh, hạnh phúc và nhân văn.

Nguồn Nhic.vn


Mục tiêu & Định hướng

>50%

Hồ sơ giải quyết theo dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trên tổng số hồ sơ; 80% thủ tục hành chính đáp ứng yêu cầu được triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; tối thiểu 90% người dân và doanh nghiệp hài lòng về việc giải quyết thủ tục hành chính..

40%

Người dân và doanh nghiệp tham gia hệ thống Chính quyền điện tử thành phố được xác thực định danh điện tử thông suốt và hợp nhất từ hệ thống Trung ương.

100%

Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 phổ biến, liên quan tới nhiều người dân, doanh nghiệp được tích hợp lên cổng Dịch vụ công quốc gia.

90%

90% hồ sơ công việc tại cấp thành phố, 80% hồ sơ công việc tại cấp quận, huyện và 60% hồ sơ công việc tại cấp phường, xã được xử lý trên môi trường mạng (không bao gồm công việc có nội dung mật).

80%

80% báo cáo định kỳ (không bao gồm nội dung mật) của các cơ quan hành chính nhà nước được cập nhật, chia sẻ trên Hệ thống thông tin báo cáo thành phố và kết nối hệ thống báo cáo quốc gia.

25% GRDP

Kinh tế số chiếm 25% GRDP, năng suất lao động hàng năm tăng tối thiểu 7%

4G/5G

Phổ cập dịch vụ mạng di động 4G/5G và điện thoại di động thông minh

100%

Dịch vụ công trực tuyến được cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động

100%

hồ sơ công việc tại Bộ Y tế, Sở Y tế; 90% hồ sơ công việc của phòng y tế huyện được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước)

95%

Người dân có hồ sơ sức khỏe điện tử

50%

Số bệnh viện trên toàn quốc chuyển đối số thành công, triển khai hồ sơ bệnh án điện tử không sử dụng bệnh án giấy, thanh toán viện phí điện tử không dùng tiền mặt.